Đầu karaoke cập nhật nhạc trực tuyến thế nào để không vi phạm bản quyền?


(Dân trí) - Bên cạnh chủ sở hữu các quán karaoke, doanh nghiệp sản xuất đầu máy cũng phải thực hiện những nghĩa vụ bản quyền riêng khi tải, lưu trữ và cập nhật bài hát từ Internet.
Ngày 1/8, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an TP Hà Nội đã khởi tố bị can đối với ông Vũ Phi Điệp (45 tuổi, trú tại phường Hoàng Mai, Hà Nội), Giám đốc Công ty TNHH Tập đoàn Điện tử Việt KTV, về tội Xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan.
Sau vụ việc, nhiều người đặt câu hỏi liệu đi hát karaoke có phải trả tiền bản quyền hay không, còn chủ quán và doanh nghiệp sản xuất đầu karaoke phải thực hiện những nghĩa vụ gì theo quy định pháp luật.
Trao đổi với phóng viên Dân trí, luật sư Nguyễn Văn Duy, Giám đốc Công ty Luật Hoàng Duy và Cộng sự, cho biết nghĩa vụ trả tiền bản quyền không gắn với người hát mà gắn với chủ thể sử dụng âm nhạc để phục vụ hoạt động kinh doanh.
Nghĩa vụ của khách hát, chủ quán và nhà sản xuất đầu karaoke khác nhau thế nào?
Theo luật sư Duy, có thể chia thành ba nhóm với trách nhiệm hoàn toàn khác nhau.
Trước hết là khách đến hát karaoke. Đây là hoạt động phục vụ nhu cầu giải trí cá nhân, không nhằm mục đích thương mại nên người hát không phải trả tiền bản quyền.
Trong khi đó, chủ thể có nghĩa vụ ở đây là cơ sở kinh doanh karaoke. Họ sử dụng tác phẩm và bản ghi nhằm mục đích thương mại nên phải thực hiện nghĩa vụ trả tiền bản quyền theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ.

Theo điểm b khoản 1 Điều 26 và điểm b khoản 1 Điều 33 Luật Sở hữu trí tuệ (sửa đổi, bổ sung năm 2022), việc sử dụng bản ghi âm, ghi hình đã công bố trong hoạt động kinh doanh không cần xin phép trước nhưng phải trả tiền bản quyền cho chủ sở hữu theo thỏa thuận kể từ khi bắt đầu sử dụng.
Trên thực tế, khoản tiền này thường được thực hiện thông qua Trung tâm Bảo vệ quyền tác giả âm nhạc Việt Nam (VCPMC).
Khác với chủ quán karaoke, doanh nghiệp sản xuất và cung cấp đầu karaoke lại có nghĩa vụ pháp lý khác hẳn.
Vị luật sư dẫn ví dụ về trường hợp của VietKTV, đơn vị này đã sao chép, chuyển đổi định dạng và cài đặt tác phẩm vào thiết bị để kinh doanh.
Dẫu vậy, quyền sao chép là độc quyền của chủ sở hữu nên doanh nghiệp muốn thực hiện phải được cho phép và trả tiền theo thỏa thuận, thay vì chỉ áp dụng cơ chế “không cần xin phép nhưng phải trả tiền” như cơ sở kinh doanh karaoke.
Máy karaoke cập nhật nhạc trực tuyến có được coi là sao chép?
Hiện nay, nhiều doanh nghiệp cập nhật bài hát cho đầu karaoke thông qua Internet hoặc lưu dữ liệu trên máy chủ, nền tảng điện toán đám mây rồi đồng bộ tới hàng nghìn thiết bị.
Dưới góc độ pháp lý, luật sư Duy nhấn mạnh đây không đơn thuần là thao tác kỹ thuật.
Việc tải bài hát từ nền tảng số, chuyển đổi định dạng rồi lưu vào máy chủ, ổ cứng hoặc hệ thống đám mây đều là hành vi sao chép, bởi mỗi bước đều tạo thêm một bản sao của tác phẩm.

Sau đó, mỗi lần dữ liệu được đồng bộ xuống một đầu karaoke lại tiếp tục tạo thêm một bản sao khác.
Trong trường hợp hệ thống cho phép người dùng tải bài hát từ kho dữ liệu trực tuyến đã được kết nối sẵn, hoạt động này còn liên quan đến quyền phân phối và quyền truyền đạt tác phẩm tới công chúng.
Luật sư Duy cũng lưu ý cơ chế “không cần xin phép nhưng phải trả tiền” chỉ áp dụng đối với việc phát bản ghi trong hoạt động kinh doanh karaoke, không áp dụng đối với việc sao chép tác phẩm để sản xuất thiết bị.
Đã mua nhạc có đồng nghĩa được toàn quyền kinh doanh?
Một quan điểm phổ biến là doanh nghiệp chỉ cần mua file nhạc hoặc tải từ các nền tảng số rồi chuyển thành dữ liệu karaoke để sử dụng nên không vi phạm bản quyền.
Theo luật sư Duy, đây là cách hiểu chưa chính xác.
Việc mua một file nhạc chỉ đồng nghĩa với việc người dùng sở hữu bản sao của file hoặc được cấp quyền sử dụng theo điều khoản của nền tảng, hay hiểu đơn là là mua quyền được nghe.
Vì thế, điều này không có nghĩa là người mua được chuyển giao các quyền tài sản đối với tác phẩm như quyền sao chép, quyền làm tác phẩm phái sinh, quyền phân phối hay quyền truyền đạt tới công chúng.

Trên thực tế, các nền tảng số thường chỉ cấp phép cho mục đích nghe cá nhân, phi thương mại và không cho phép người dùng sao chép hoặc khai thác thương mại nội dung.
Luật sư Duy khẳng định việc chuyển file nhạc thành phiên bản karaoke thông qua tách lời hoặc chỉnh sửa còn có thể liên quan đến quyền làm tác phẩm phái sinh và quyền bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm.
Đặc biệt, việc làm tác phẩm phái sinh không chỉ bắt buộc phải xin phép mà còn phải đảm bảo không gây phương hại đến quyền nhân thân của tác giả đối với tác phẩm gốc. Nếu tiếp tục phân phối hoặc kinh doanh các dữ liệu này thì sẽ phát sinh thêm quyền phân phối
Nếu tiếp tục phân phối hoặc kinh doanh các dữ liệu này thì sẽ phát sinh thêm quyền phân phối.
Vì vậy, muốn thực hiện các hoạt động trên, doanh nghiệp phải có hợp đồng chuyển quyền bằng văn bản với chủ sở hữu quyền, thay vì mặc nhiên cho rằng việc đã mua file nhạc đồng nghĩa được quyền khai thác thương mại.
Đơn vị có nghĩa vụ cần làm gì để hạn chế rủi ro?
Vị luật sư nhận định nhóm cần cẩn trọng nhất chính là các doanh nghiệp sản xuất và cung cấp đầu karaoke.
Trước khi cài đặt bất kỳ bài hát nào vào thiết bị, doanh nghiệp nên có hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng hoặc chuyển quyền với chủ sở hữu quyền tác giả (nhạc sĩ sáng tác - thường thông qua VCPMC) và quyền liên quan (ca sĩ biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình - thường thông qua Hiệp hội Công nghiệp Ghi âm Việt Nam - RIAV), bảo đảm đầy đủ các quyền đối với việc sao chép, phân phối và truyền đạt tới công chúng
Bên cạnh đó, doanh nghiệp nên xây dựng danh mục tác phẩm minh bạch, có cơ chế trả tiền bản quyền phù hợp và lưu giữ đầy đủ hồ sơ cấp phép để chứng minh nguồn gốc hợp pháp.

Đối với các cơ sở kinh doanh karaoke, luật sư khuyến nghị chủ động ký hợp đồng và thực hiện nghĩa vụ trả tiền bản quyền thông qua VCPMC hoặc trực tiếp với chủ sở hữu quyền, đồng thời chỉ sử dụng thiết bị và kho nhạc có nguồn gốc rõ ràng.
Một giải pháp khác là bổ sung điều khoản trong hợp đồng mua đầu karaoke, yêu cầu nhà cung cấp cam kết và bảo đảm về tính hợp pháp của kho nội dung được cài đặt trên thiết bị.
Với các nền tảng số, cần minh bạch điều khoản cấp phép, phân biệt rõ phạm vi sử dụng cá nhân và khai thác thương mại.
Đồng thời các nền tảng cần tăng cường công nghệ nhận diện bản quyền và phối hợp với các tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả, quyền liên quan để xử lý nội dung vi phạm.