MINISTRY-ACTIVITIES

'Nhà khoa học giỏi không mặc nhiên trở thành chuyên gia sáng chế'

Bùi Đăng MinhThứ hai, 31/8/202635 phút đọc
'Nhà khoa học giỏi không mặc nhiên trở thành chuyên gia sáng chế'

PGS.TS Từ Diệp Công Thành là tác giả sở hữu 10 bằng độc quyền sáng chế do Văn phòng Sáng chế và Nhãn hiệu Mỹ (USPTO) cấp trong lĩnh vực thiết bị y tế, hỗ trợ bệnh nhân và phục hồi chức năng. Từ năm 2023, ông là Giám đốc Trung tâm Sở hữu trí tuệ và Chuyển giao công nghệ (IPTC) thuộc Đại học Quốc gia TP HCM - đơn vị xác lập quyền, đăng ký bảo hộ và thương mại hóa, chuyển giao các kết quả nghiên cứu của trường. IPTC cũng là thành viên Mạng lưới các trung tâm hỗ trợ chuyển giao công nghệ của Tổ chức Sở hữu trí tuệ Thế giới.

Từ góc độ nhà sáng chế cũng như nhà quản lý đã hỗ trợ về sở hữu trí tuệ cho hàng nghìn nghiên cứu khoa học, PGS Thành chia sẻ với VnExpress về việc hình thành sáng chế từ kết quả nghiên cứu và con đường ra thị trường, trong bối cảnh Việt Nam xác định tài sản trí tuệ là nguồn lực quan trọng của quốc gia.

PGS.TS Từ Diệp Công Thành. Ảnh: NVCC
PGS.TS Từ Diệp Công Thành. Ảnh: NVCC

- Đâu là vấn đề ông gặp phải nhiều nhất khi hỗ trợ nhà khoa học xây dựng, bảo hộ tài sản trí tuệ từ nghiên cứu?

- Một vấn đề chúng tôi thường xuyên gặp là nhà khoa học không nhận diện được tài sản trí tuệ hoặc nhận diện quá muộn sau khi đã công bố bài báo, tham luận hoặc đưa thông tin lên mạng. Chỉ một yếu tố này có thể làm mất đi cơ hội xác lập tài sản trí tuệ. Ngoài ra, nhiều người nhầm lẫn giữa tính mới khoa học và tính mới sáng chế, một bài báo có giá trị khoa học chưa chắc tạo ra một giải pháp kỹ thuật đủ điều kiện bảo hộ.

Qua đó, chúng tôi nhìn nhận vấn đề rộng hơn: nhà khoa học giỏi không mặc nhiên trở thành chuyên gia sáng chế. Để hình thành sáng chế, cần một quá trình chuyên nghiệp từ tra cứu đến lập chiến lược bảo hộ, viết yêu cầu, theo đuổi đơn. Thậm chí, việc viết bài báo khoa học khác hoàn toàn với viết bản mô tả sáng chế sao cho đúng bản chất mà vẫn có phạm vi bảo hộ rộng và bảo mật được những nội hàm cốt lõi.

Vì vậy các trung tâm hỗ trợ cần đi cùng nhà khoa học bằng cách tham gia sớm hơn trong chu trình nghiên cứu, cùng nhận diện tài sản, đánh giá khả năng bảo hộ và lựa chọn thời điểm công bố, chứ không chỉ cung cấp một thủ tục hành chính.

Các viện, trường cần có một bộ phận cầu nối chuyên nghiệp, có khả năng đọc nghiên cứu, xây dựng chiến lược bảo hộ, kết nối chuyên gia và doanh nghiệp. Nói cách khác, thay vì biến mỗi nhà khoa học thành một chuyên gia sở hữu trí tuệ, hãy xây dựng một hệ thống đủ tốt để nhà khoa học được tập trung làm điều họ giỏi nhất.

- Ông đánh giá như thế nào về mối liên kết giữa nghiên cứu khoa học và tài sản trí tuệ hiện nay?

- Mối liên kết này đã được quan tâm nhiều hơn trước, nhưng ở nhiều nơi vẫn còn mang tính hậu kiểm. Tức là, đề tài đã làm gần xong, bài báo đã chuẩn bị công bố mới đặt vấn đề đăng ký sáng chế.

Tôi cho rằng đối với các hướng nghiên cứu mang tính ứng dụng, các viện, trường cần chuyển sang mô hình "IP by design" - tư duy về tài sản trí tuệ và bài toán thực tiễn của thị trường xuất hiện ngay từ khâu thiết kế nghiên cứu. Thay đổi này có thể bắt đầu bằng cách đưa bước rà soát sở hữu trí tuệ vào quy trình quản lý nhiệm vụ khoa học.

Đối với nhà khoa học mong muốn đưa nghiên cứu thành tài sản trí tuệ, tôi thường chia sẻ 3 điều. Đầu tiên, hãy nghĩ đến sở hữu trí tuệ sớm hơn một bước so với công bố, chờ đến khi bài báo được chấp nhận là quá muộn.

Thứ hai, hãy nghĩ đến thị trường sớm hơn một bước so với sở hữu trí tuệ. Vấn đề cốt lõi không phải là có được cấp bằng hay không, mà là bằng sáng chế sau khi cấp sẽ dùng để làm gì, ai đang có một vấn đề đủ lớn để sẵn sàng trả tiền cho giải pháp này.

Và cuối cùng là đừng cố đi một mình. Một công nghệ tốt, được đóng gói hoàn chỉnh cần nhà khoa học, chuyên gia sở hữu trí tuệ, kỹ sư phát triển sản phẩm, doanh nghiệp, nhà đầu tư và nhiều trường hợp còn cần chuyên gia tiêu chuẩn, pháp lý. Nhà khoa học không cần trở thành chuyên gia của tất cả những lĩnh vực đó, nhưng giữ vị trí ở đầu nguồn thì cần phải biết khi nào nên đưa các bên liên quan vào cuộc.

"Thị trường ở đâu?" là câu hỏi lớn cần trả lời

- Đăng ký sáng chế quốc tế rất tốn kém, làm thế nào để cân đối giữa nhu cầu bảo hộ và chi phí bỏ ra?

- Không phải mọi sáng chế tốt đều phải đăng ký Mỹ, châu Âu hoặc thật nhiều quốc gia. Bằng sáng chế quốc tế phải là một quyết định đầu tư.

Câu hỏi đầu tiên, thị trường của giải pháp ở đâu. Nếu sản phẩm chủ yếu phục vụ thị trường Việt Nam, chưa có kế hoạch xuất khẩu, chưa có nhà đầu tư hoặc đối tác quốc tế thì phải cân nhắc rất kỹ lý do bỏ một khoản tiền lớn để bảo hộ ở nhiều nước.

Thứ hai, tài sản đó có thực sự đủ mạnh, xứng đáng đầu tư không. Phải tra cứu sâu và đánh giá tính mới trong tương quan với tình trạng kỹ thuật của thế giới, phạm vi cạnh tranh trước khi đầu tư đăng ký bảo hộ.

Cuối cùng, ai sẽ khai thác quyền đó. Nếu chưa xác định được doanh nghiệp, nhà đầu tư, startup hay chiến lược phát triển giải pháp thành sản phẩm thì cần xem xét theo từng giai đoạn. Ban đầu có thể đầu tư cho nhận diện, tra cứu và nộp đơn ở mức hợp lý, sau đó tiếp tục đánh giá về mức độ quan tâm của thị trường, doanh nghiệp để quyết định có tiếp tục mở rộng quốc tế hay không.

Quản trị danh mục sáng chế tốt không chỉ là biết đăng ký, mà còn phải nhận diện những công nghệ không nên tiếp tục theo đuổi.

- Có sáng chế đồng nghĩa với khả năng đưa nghiên cứu ra thị trường, thương mại hóa?

- Giá trị khoa học, kỹ thuật và giá trị thị trường của một sáng chế là những vấn đề khác nhau. Có bằng sáng chế không đồng nghĩa với việc sẽ thương mại hóa thành công.

Từ kinh nghiệm làm sáng chế, giai đoạn đầu tôi rất vui khi một giải pháp được chấp nhận, đặc biệt là bởi các cơ quan quốc tế như USPTO, vì cho thấy kết quả đáng ghi nhận về mặt khoa học và sở hữu trí tuệ. Sau đó mới thấy từ bằng sáng chế đến giá trị thị trường còn một khoảng cách rất lớn, dù sáng chế đã giải bài toán cụ thể, gắn sát với thực tiễn và nhu cầu.

Tôi nghiên cứu tiến sĩ về cơ bắp nhân tạo phỏng sinh học trong robotics và hỗ trợ con người, một trong những ứng dụng chính của hướng nghiên cứu này là phục hồi chức năng. Sau khi hoàn thành bằng tiến sĩ ở nước ngoài, tôi về nước và tìm đến Bệnh viện Chợ Rẫy, Bệnh viện Chấn thương Chỉnh hình để tìm những bài toán thực tế trong chăm sóc y tế và phục hồi chức năng cho bệnh nhân Việt Nam. Rất nhanh, tôi đã có những bằng sáng chế Mỹ đầu tiên vào năm 2012, và tiếp theo là nhiều bằng sáng chế khác.

Trong đó, tôi đã đăng ký thành công US Patent 8935814 về thiết bị nâng vận chuyển bệnh nhân, trong bối cảnh việc nâng vận chuyển bệnh nhân hậu phẫu tại Việt Nam thường sử dụng sức người, nguy cơ gây tác động không đáng có hoặc đau đớn cho bệnh nhân.

Nhưng khi tiếp cận doanh nghiệp để trình bày, một số chỉ muốn thương mại sản phẩm có sẵn, không muốn cùng đầu tư phát triển và cũng không có đội ngũ R&D để cùng phát triển sản phẩm từ patent. Tôi cũng được các đơn vị "săn patent" tại Mỹ liên hệ và sẵn sàng làm đầu mối trong thương mại hóa, nhưng do vướng mắc trong khâu đồng sở hữu và thẩm quyền, sáng chế chưa thể ra thị trường.

Sáng chế có thể giá trị về khoa học, kỹ thuật nhưng nếu không tìm được phương án phù hợp để phát triển thành sản phẩm thì vẫn chỉ nằm trên giấy. Từ tri thức đến tài sản trí tuệ đã là một bước, nhưng từ tài sản trí tuệ đến giá trị cho xã hội và thị trường mới là bước khó nhất.

Đây cũng là lý do tôi cho rằng các viện, trường không nên quản lý sáng chế và sở hữu trí tuệ dựa trên số lượng đơn đăng ký. Thay vào đó, cần nhìn nhận toàn bộ vòng đời của một tài sản trí tuệ từ khi được phát hiện đến bảo hộ, quản trị danh mục và chuyển giao hoặc thương mại hóa.

Bốn mắt xích còn yếu

- Vậy điểm nghẽn từ sáng chế đến thị trường là gì?

- Tôi cho rằng có ít nhất bốn mắt xích còn yếu.

Thứ nhất, nhiều nghiên cứu vẫn theo hướng tìm hiểu khoa học công nghệ thay vì đáp ứng những nhu cầu có thật của thị trường. Nhà khoa học thường rất dễ tin rằng giải pháp mình làm ra là mới vì đã dành nhiều năm cho nó, nhưng thị trường không đánh giá công sức mà đánh giá kết quả trong tương quan với tình trạng kỹ thuật của thế giới, tính sáng tạo và khả năng triển khai công nghiệp. Đây cũng là lý do cần có bước tra cứu, so sánh và thậm chí phải sẵn sàng bỏ hoặc thay đổi hướng đi.

Thứ hai, thiếu nguồn kinh phí chấp nhận rủi ro cho các giai đoạn sản xuất thử, tạo nguyên mẫu, kinh doanh thử và mở rộng quy mô. Có thể coi đây là khoản đầu tư mạo hiểm mà các nhà nghiên cứu cần để đi từ ý tưởng đến một nguyên mẫu đủ tốt để doanh nghiệp đánh giá.

Thứ ba, thiếu các tổ chức trung gian đủ chuyên nghiệp để đóng gói công nghệ, định giá và đàm phán giao dịch. Doanh nghiệp không cần tấm bằng độc quyền, mà cần công nghệ có thể biến thành sản phẩm, khách hàng, lợi thế cạnh tranh và khả năng sinh lời. Bằng sáng chế bản thân nó không trả lời được phần lớn những mối quan tâm của doanh nghiệp, chẳng hạn như thiết bị đã thử nghiệm chưa, cần đáp ứng những tiêu chuẩn nào, chi phí sản xuất, tiềm năng thị trường.

Thương mại hóa tài sản trí tuệ không phải là bán bằng sáng chế, mà là một gói công nghệ hoặc giải pháp kỹ thuật được định giá dựa trên độ hoàn thiện, tiềm năng và rủi ro.

Điều này cũng liên quan đến yếu tố thứ tư là cơ chế chia sẻ lợi ích và rủi ro chưa đủ hấp dẫn để doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư lớn vào nghiên cứu trong trường đại học. Tôi cho rằng vấn đề không chỉ nằm ở tỷ lệ chia tiền, mà còn quyền sở hữu kết quả, quyền quyết định, mức độ độc quyền, phương án xử lý tài sản nếu dự án thất bại, mức độ tham gia của nhà nghiên cứu sau chuyển giao. Nếu các câu hỏi này phải mất sáu tháng hoặc một năm mới giải quyết được thì cơ hội kinh doanh có thể đã qua.

Quan hệ giữa viện trường và doanh nghiệp không nên có một công thức chia lợi ích duy nhất. Có thể cấp phép khai thác kết quả, đồng sở hữu, doanh nghiệp tài trợ nghiên cứu đổi lấy quyền khai thác, đồng phát triển hoặc spin-off. Điều quan trọng là quy tắc phải được xác định trước khi bắt đầu, minh bạch và đủ linh hoạt.

- Ông cho rằng giữa nhà nghiên cứu, viện trường và doanh nghiệp nên xây dựng hợp tác như thế nào?

- Lĩnh vực thiết bị y tế dạy cho tôi một bài học: đừng mang một bằng sáng chế đến doanh nghiệp rồi hỏi họ có muốn mua không, bởi phạm vi quan tâm của nhà nghiên cứu, nhà sáng chế và doanh nghiệp có thể rất khác nhau. Cách tiếp cận của tôi thay đổi từ "chuyển giao" sang "đồng phát triển".

Doanh nghiệp không nên chỉ là người mua ở cuối chuỗi mà nên đặt vấn đề, tìm kiếm chuyên môn phù hợp và tham gia ngay từ thời điểm hình thành bài toán nghiên cứu. Doanh nghiệp đồng hành từ sớm giúp cho giải pháp bao hàm các yếu tố quan trọng đối với thương mại hóa, như khả năng chế tạo hàng loạt, linh kiện, giá thành và các tiêu chuẩn liên quan.

Nhiệm vụ của trường đại học, nhà nghiên cứu là chuyển vấn đề sản xuất thực tế của doanh nghiệp thành đề tài khoa học công nghệ, rồi từ kết quả nghiên cứu cùng doanh nghiệp biến thành tài sản trí tuệ và sản phẩm. Thay vì dành nguồn đầu tư, tài trợ để tạo ra thật nhiều kết quả nghiên cứu rồi mới đi tìm cách thương mại hóa, hãy thiết kế con đường thương mại hóa ngay từ đầu.

Giá trị cuối cùng chỉ xuất hiện khi tri thức giải quyết được một vấn đề thực tế và có người sẵn sàng sử dụng, đầu tư hoặc trả tiền cho giải pháp đó.

Nam Nguyễn

Nguồn / Original source: VnExpress