MINISTRY-ACTIVITIES

'Thu nhập tăng 2-4 lần thúc đẩy nhà khoa học dám nghĩ, dám đề xuất'

Bùi Đăng MinhThứ sáu, 14/8/202621 phút đọc
'Thu nhập tăng 2-4 lần thúc đẩy nhà khoa học dám nghĩ, dám đề xuất'

Thông tư 49 của Bộ Khoa học và Công nghệ, ban hành ngày 1/8, quy định mức thù lao tối đa 300 triệu đồng mỗi tháng cho tổng công trình sư tham gia phát triển công nghệ chiến lược, 150 triệu đồng cho chủ nhiệm nhiệm vụ và 100-120 triệu đồng cho nghiên cứu viên chính. Các thành viên khác có thể nhận thù lao 45-90 triệu đồng mỗi người.

PGS.TS Trần Đỗ Đạt, Phó viện trưởng Khoa học và Công nghệ Việt Nam - Hàn Quốc (VKIST), chia sẻ với VnExpress về khả năng thu hút nhân tài của cơ chế mới và những điều kiện để chính sách phát huy hiệu quả.

PGS.TS Trần Đỗ Đạt, Phó viện trưởng Khoa học và Công nghệ Việt Nam - Hàn Quốc. Ảnh: Trọng Đạt
PGS.TS Trần Đỗ Đạt, Phó viện trưởng Khoa học và Công nghệ Việt Nam - Hàn Quốc. Ảnh: Trọng Đạt

- Ông đánh giá mức thù lao mới cho nhà khoa học tham gia phát triển công nghệ chiến lược đã hợp lý hay chưa?

- Để đánh giá, hãy cùng nhìn lại những quy định đã được ban hành.

Theo Thông tư 03/2023 của Bộ Tài chính, mức chi thù lao đối với chức danh chủ nhiệm nhiệm vụ khoa học và công nghệ không quá 40 triệu đồng/tháng. Thù lao của các vị trí khác không vượt 0,8 lần con số này.

Đến 2025, với Thông tư 39/2025 của Bộ Khoa học và Công nghệ, trần thù lao dành cho chủ nhiệm nhiệm vụ được nâng lên 70 triệu đồng.

Nếu chỉ tính chức danh chủ nhiệm nhiệm vụ, mức tối đa trong cơ chế mới là 150 triệu đồng, gần gấp bốn đãi ngộ năm 2023 và gấp hai so với quy định hiện hành. Có thể nói, con số có sự cải thiện rất đáng kể.

Không chỉ cải thiện thu nhập, dự thảo còn bổ sung công việc mới như tổng công trình sư, mới được đưa vào trong các văn bản pháp luật. Riêng vị trí này, cơ chế cho phép điều chỉnh tăng vượt khung trong trường hợp cần thiết, không dừng ở ngưỡng 300 triệu đồng.

- Sự điều chỉnh tích cực này sẽ tác động đến đời sống của nhà khoa học thế nào?

- Báo chí vẫn phản ánh những câu chuyện buồn khi ở một số viện nghiên cứu, nhà khoa học mất động lực bởi lương không đủ, thu nhập tính trung bình vài ba triệu đồng mỗi tháng. Họ phải làm thêm việc khác như bán hàng online để trang trải phí sinh hoạt. Cơ chế tài chính mới là một phần trong những nỗ lực thay đổi chính sách nhằm tháo gỡ những khó khăn đó.

Nhóm hưởng lợi nhiều nhất là ở viện và trung tâm nghiên cứu công lập, nơi chủ yếu dựa vào nguồn ngân sách nhà nước. Họ thường có thu nhập thấp hơn đồng nghiệp tham gia hoạt động khoa học công nghệ ở trường đại học và bệnh viện. Nguyên nhân là thị trường khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo Việt Nam mới đang hình thành, quy mô khiêm tốn nên nguồn thu từ hoạt động khoa học công nghệ vẫn hạn chế nếu so sánh với thị trường giáo dục đào tạo và chăm sóc sức khỏe.

Theo tính toán của Quỹ Phát triển Khoa học và Công nghệ quốc gia (Nafosted), nếu so sánh với Singapore và quy đổi theo sức mua tương đương (PPP), mức thù lao của nhà khoa học Việt sẽ tiệm cận, ngang bằng, thậm chí cao hơn. Vì vậy, cơ chế tài chính mới chắc chắn cải thiện thu nhập và đời sống người làm khoa học.

Tôi tin chính sách sẽ tác động mạnh, khuyến khích nhà khoa học dám nghĩ, dám đề xuất và đảm nhận nhiệm vụ khoa học, công nghệ quy mô lớn, tạo đóng góp thiết thực để phát triển đất nước.

- Với các nhà khoa học Việt Nam ở nước ngoài, liệu mức đãi ngộ trên có đủ hấp dẫn?

- Qua trao đổi với các đồng nghiệp tại Pháp, Đức, Hàn Quốc và tham khảo kinh nghiệm quốc tế, tôi đánh giá thù lao 150 triệu đồng cho vị trí chủ nhiệm nhiệm vụ nằm ở mức trung bình. Trong khi đó, 300 triệu đồng dành cho tổng công trình sư thuộc nhóm cao nếu so với nhà khoa học có chức danh giáo sư trong hệ thống nhà nước.

Quy đổi theo sức mua tương đương và giá cả sinh hoạt tại Việt Nam cũng mang đến những lợi thế nhất định. Vì vậy, nếu xét riêng về khía cạnh tài chính, điều này góp phần tăng khả năng thu hút nhà khoa học Việt Nam ở nước ngoài.

Nhưng thu nhập không phải yếu tố duy nhất, vì còn phụ thuộc công việc, môi trường nghiên cứu và các đãi ngộ khác. Khi cơ chế mới được triển khai đồng bộ với những chính sách trọng dụng nhân tài khác, tôi tin việc thu hút nhân tài sẽ có chuyển biến tích cực.

Một góc khuôn viên Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam - Hàn Quốc (VKIST) tại Hòa Lạc, Hà Nội. Ảnh: Trọng Đạt
Một góc khuôn viên Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam - Hàn Quốc tại Hòa Lạc, Hà Nội. Ảnh: Trọng Đạt

- Bên cạnh chế độ thù lao, theo ông điều gì quyết định sự gắn bó của nhà khoa học với viện, trường hoặc một chương trình nghiên cứu?

- Như đã đề cập, việc thu hút hay giữ chân nhà khoa học phụ thuộc nhiều yếu tố như thu nhập, môi trường làm việc, cơ hội phát triển và chính sách đãi ngộ. Đây không phải câu chuyện của riêng giới nghiên cứu mà cũng là điều mọi người lao động quan tâm.

Những năm qua, nhiều nhà khoa học đã chuyển từ đơn vị công lập sang các tập đoàn, doanh nghiệp như Vingroup, Viettel, FPT hay Samsung. Thu nhập là một phần, nhưng cần thẳng thắn rằng các doanh nghiệp đó mang đến nhiều bài toán nghiên cứu có tính thách thức, xuất phát từ thực tiễn. Ở góc độ người làm nghiên cứu, tôi nhận thấy điều nhà khoa học thực sự mong muốn là tham gia giải các bài toán, vấn đề, thách thức về khoa học công nghệ, bằng tri thức của mình.

Muốn giữ chân người giỏi, tổ chức khoa học và công nghệ công lập cần đổi mới, tạo môi trường nghiên cứu hấp dẫn và có những bài toán đủ lớn để nhà khoa học phát huy năng lực. Đồng thời, nhà nước cần hỗ trợ thúc đẩy phát triển thị trường khoa học công nghệ, thông qua việc đặt hàng bài toán lớn cho những tổ chức có năng lực.

- Khi thu nhập đã được cải thiện, Việt Nam cần làm gì tiếp theo để tạo điều kiện tốt nhất cho nhà khoa học phát triển công nghệ chiến lược?

- Xây dựng cơ chế tài chính là bước đi quan trọng mang tính nền tảng. Ở bước tiếp theo, chúng ta cần hoàn thiện cơ chế quản lý các nhiệm vụ công nghệ chiến lược, theo hướng cạnh tranh công bằng, minh bạch, ứng dụng công nghệ số, tôn trọng tài sản trí tuệ và bảo vệ sự dấn thân của những người dám đổi mới, sáng tạo.

Những vấn đề này đều đã được đề cập trong Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Trong đó có việc xây dựng môi trường nghiên cứu theo chuẩn quốc tế, giảm gánh nặng thủ tục hành chính, để nhà khoa học tập trung nghiên cứu thay vì chạy theo giấy tờ; đầu tư và chia sẻ hạ tầng nghiên cứu hiện đại giữa các viện, trường và doanh nghiệp; chấp nhận rủi ro và tạo điều kiện thương mại hóa kết quả nghiên cứu.

Điều quan trọng nhất lúc này là triển khai sớm, quyết liệt và đồng bộ các cơ chế đã có, vừa thực hiện, vừa đánh giá và điều chỉnh sao cho phù hợp với thực tiễn.

Trọng Đạt

Nguồn / Original source: VnExpress