Bài toán xử lý dữ liệu trong chuyển đổi số công tác Đảng ở Thái Nguyên


(Dân trí) - Thái Nguyên đang thực hiện chuyển đổi số trong công tác Đảng mạnh mẽ. Hơn một triệu văn bản điện tử, khoảng 300 phiên họp không giấy mỗi tuần, hơn 144.400 đảng viên được kết nối trên nền tảng số.

Số hóa công tác Đảng ở một xã vùng cao
Cách trung tâm thành phố Thái Nguyên khoảng 60km, Sảng Mộc là xã vùng cao, điều kiện còn nhiều khó khăn. Địa phương có 12 chi bộ trực thuộc, quản lý 250 đảng viên.
“Đồng bào dân tộc thiểu số chiếm 99% dân số địa phương, trong đó dân tộc Tày là đa số”, ông Hoàng Anh Đức, Bí thư Đảng ủy xã Sảng Mộc thông tin.


Chuyển đổi số trong công tác Đảng ở đây bắt đầu từ những việc rất cụ thể: Cán bộ có sử dụng được phần mềm hay không, đảng viên có đăng nhập được ứng dụng hay không, đường truyền có đủ ổn định để một chi bộ tổ chức sinh hoạt trên môi trường số hay không...
Chi bộ Khuổi Mèo cách trung tâm xã khoảng 7km. Khu vực này có Internet nhưng không có sóng điện thoại. Trong khi đó, để kích hoạt Sổ tay Đảng viên điện tử, người dùng cần nhận OTP qua điện thoại. Xã phải tổ chức cho đảng viên đến trung tâm để kích hoạt tài khoản, đồng thời hướng dẫn điểm danh và sử dụng các chức năng của phần mềm.

Một buổi sinh hoạt chi bộ tại xã Sảng Mộc (Ảnh: UBND xã Sảng Mộc).
Ông Nguyễn Văn Quân, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ xã, Phó Chánh Văn phòng Đảng ủy xã Sảng Mộc, cho rằng thực tế này vừa là khó khăn, vừa đặt ra yêu cầu phải đổi mới cách tuyên truyền, hướng dẫn và tổ chức thực hiện theo hướng thiết thực, dễ sử dụng, phù hợp với từng nhóm đối tượng.
Từ chỗ chủ yếu trao đổi, xử lý công việc bằng văn bản giấy hoặc phương thức thủ công, cán bộ xã từng bước sử dụng Hệ thống thông tin Điều hành tác nghiệp, Sổ tay Đảng viên điện tử và phòng họp không giấy eCabinet. Việc tiếp nhận văn bản, chuyển xử lý, tra cứu tài liệu, theo dõi tiến độ hay chuẩn bị tài liệu họp nhờ đó được thực hiện nhanh và thuận tiện hơn.
Tuy nhiên, thực tế ở Sảng Mộc cũng chỉ ra một điều: đưa một nền tảng xuống cơ sở chưa đồng nghĩa với chuyển đổi số đã hoàn thành.
Địa bàn rộng, dân cư phân bố không đồng đều, một số chi bộ còn khó khăn về thiết bị, đường truyền và kỹ năng số. Một hệ thống dù được thiết kế tốt cũng khó phát huy đầy đủ hiệu quả nếu người sử dụng chưa thể tiếp cận thường xuyên.
Vì vậy, chuyển đổi số trong công tác Đảng trước hết vẫn là sự thay đổi trong tư duy và cách làm của cán bộ, đảng viên; công nghệ là công cụ để hiện thực hóa sự thay đổi ấy.
Mỗi hoạt động trong công tác Đảng đều tạo ra dữ liệu
Cùng với Đồng Tháp, Lạng Sơn, Thái Nguyên là một trong ba đảng bộ địa phương được lựa chọn thí điểm ứng dụng Sổ tay Đảng viên điện tử, từ ngày 25/8/2025 đến 15/10/2025, trước khi nền tảng được nhân rộng trên cả nước.
Đến nay, Hệ thống thông tin Điều hành tác nghiệp đã được triển khai tới 100% đảng ủy, gồm 121 đơn vị với 5.389 người dùng. Hơn 921.000 văn bản đến và 106.000 văn bản đi đã được xử lý trên hệ thống, từng bước hình thành luồng văn bản điện tử liên thông từ Trung ương tới cấp xã.
Thay đổi dễ nhận thấy nhất là tốc độ xử lý công việc. Cán bộ có thể tiếp nhận, xử lý, ký số, tra cứu và theo dõi tiến độ trên môi trường điện tử; thời gian luân chuyển văn bản và truyền đạt chỉ đạo giảm khoảng 70-80%.
Giá trị của quá trình này không đơn giản là việc văn bản được chuyển nhanh hơn. Khi một văn bản được tiếp nhận, chuyển xử lý và ký số, hệ thống đồng thời ghi nhận quá trình xử lý. Khi một nhiệm vụ được giao, tiến độ thực hiện có thể được theo dõi. Những dữ liệu trước đây nằm rải rác trong hồ sơ giấy dần được hình thành và tập trung trên môi trường điện tử.
Sự thay đổi tương tự diễn ra trong từng cuộc họp. Phòng họp không giấy eCabinet hiện phục vụ trung bình khoảng 300 phiên họp mỗi tuần, giúp giảm khoảng 14.400 giờ chuẩn bị tài liệu và tiết kiệm khoảng 1,3 tỷ đồng chi phí in ấn mỗi năm. Từ khâu chuẩn bị, tổ chức cuộc họp đến ban hành, theo dõi kết luận, thông tin được duy trì trong một chu trình thống nhất.
Với Sổ tay Đảng viên điện tử, hơn 144.400 đảng viên thuộc 5.142 chi bộ đã được kết nối trên nền tảng. Hơn 2.220 văn kiện và 13.590 ý kiến đóng góp được cập nhật, quản lý trên hệ thống.
Mỗi văn bản được luân chuyển, mỗi cuộc họp được tổ chức, mỗi ý kiến được ghi nhận đều tạo thêm dữ liệu về quá trình hoạt động của tổ chức đảng. Khi đó, bài toán của chuyển đổi số bắt đầu thay đổi.
Không chỉ là đã đưa được bao nhiêu hoạt động lên môi trường số, mà quan trọng hơn là những dữ liệu được tạo ra có thể được sử dụng như thế nào.
Từ dữ liệu được tạo ra đến dữ liệu có thể sử dụng
Số hóa giúp dữ liệu được hình thành nhanh hơn, nhưng không tự động khiến dữ liệu trở nên hữu ích. Một khối lượng dữ liệu lớn nhưng thiếu cập nhật, trùng lặp, không thống nhất về cấu trúc hoặc không thể kết nối giữa các hệ thống vẫn rất khó khai thác.
Muốn dữ liệu trở thành đầu vào cho phân tích và ra quyết định, trước hết phải bảo đảm dữ liệu “đúng, đủ, sạch, sống”; việc này giúp phản ánh đúng thực tế, đầy đủ theo yêu cầu quản lý, được chuẩn hóa và thường xuyên cập nhật.

Trụ sở Đảng ủy, HĐND, UBND và Ủy ban MTTQ Việt Nam xã Sảng Mộc, tỉnh Thái Nguyên. (Ảnh: Bảo Trung).
Đây cũng là bước chuyển quan trọng của chuyển đổi số: từ xây dựng nền tảng sang tổ chức và khai thác dữ liệu.
Từ đầu năm 2026, Viettel Thái Nguyên đã phối hợp với tỉnh khảo sát 139 cơ sở dữ liệu chuyên ngành tại 21 sở, ngành nhằm đánh giá hiện trạng số hóa, chất lượng và khả năng kết nối dữ liệu, làm cơ sở xây dựng kế hoạch phát triển dữ liệu chuyên ngành và dữ liệu dùng chung giai đoạn 2026-2027.
Thượng tá Vũ Hồng Quân, Giám đốc Viettel Thái Nguyên cho biết, khi các nền tảng số đã đi vào vận hành, nhiệm vụ tiếp theo là đánh giá dữ liệu đã được hình thành đến đâu, mức độ số hóa ra sao và dữ liệu đã đủ điều kiện kết nối, phân tích, phục vụ điều hành hay chưa.


Song song đó, đơn vị tham gia tư vấn thí điểm trung tâm dữ liệu của tỉnh, trong đó có kho dữ liệu và hệ thống điều hành thông minh với 10 kịch bản khởi đầu phục vụ quản lý, điều hành.
Nếu các nền tảng số giúp chuyển hoạt động từ giấy lên môi trường điện tử thì kho dữ liệu dùng chung hướng tới một bước cao hơn: đưa những thông tin đang nằm ở nhiều hệ thống khác nhau về một cấu trúc có thể kết nối, phân tích và sử dụng.
Khi đó, thay vì chờ tổng hợp nhiều báo cáo riêng lẻ, người lãnh đạo có thể khai thác thông tin từ nguồn dữ liệu thống nhất, theo dõi các chỉ tiêu, nhận diện vấn đề và có thêm căn cứ phục vụ quyết định, hỗ trợ được công tác lãnh đạo, chỉ đạo.
Theo Văn phòng Tỉnh ủy Thái Nguyên, chuyển đổi số đang từng bước làm thay đổi phương thức lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của Tỉnh ủy theo hướng nhanh hơn, kịp thời hơn, rõ trách nhiệm và thuận lợi hơn trong theo dõi, kiểm soát tiến độ công việc. Trước đây, nhiều khâu xử lý còn phụ thuộc vào hồ sơ giấy, trao đổi trực tiếp và tổng hợp thủ công; hiện nay, việc gửi, nhận, xử lý văn bản, giao nhiệm vụ và theo dõi tiến độ ngày càng được thực hiện trên môi trường số.
Đến nay, Hệ thống thông tin Điều hành tác nghiệp trong các cơ quan đảng đã được triển khai đến 92/92 đơn vị, từng bước hình thành môi trường làm việc điện tử tương đối đồng bộ trong các cơ quan Đảng của tỉnh.
Dữ liệu tốt phải bắt đầu từ cơ sở
Câu chuyện ở xã Sảng Mộc cho thấy khoảng cách từ một nền tảng số đến điều hành dựa trên dữ liệu đôi khi bắt đầu từ những vấn đề rất nhỏ.
Một đảng viên chưa sử dụng thành thạo điện thoại thông minh có thể khiến thông tin chưa được cập nhật kịp thời. Một khu vực có Internet nhưng không có sóng điện thoại có thể làm gián đoạn việc kích hoạt tài khoản. Một trường dữ liệu được nhập không thống nhất có thể tạo ra sai lệch khi tổng hợp ở quy mô lớn hơn...
Nói cách khác, chất lượng của bức tranh dữ liệu ở cấp tỉnh được hình thành từ chất lượng của từng dữ liệu ở cơ sở.
Bởi vậy, cùng với đầu tư nền tảng, hạ tầng và kết nối các hệ thống, yêu cầu quan trọng không kém là nâng cao kỹ năng số cho cán bộ, đảng viên; chuẩn hóa cách cập nhật thông tin; xác định rõ trách nhiệm đối với từng nguồn dữ liệu và duy trì dữ liệu thường xuyên, liên tục.
Chuyển đổi số trong công tác Đảng vì thế không chỉ là câu chuyện của công nghệ.
Từ số hóa văn bản, ký số, họp không giấy đến kết nối thông tin với đảng viên, Thái Nguyên đã từng bước hình thành nền móng của môi trường làm việc số. Nhưng khi các nền tảng đã đi vào vận hành và khối lượng dữ liệu ngày càng lớn, một yêu cầu mới được đặt ra: biến dữ liệu thành công cụ phục vụ công tác lãnh đạo, chỉ đạo và điều hành.
Khi dữ liệu được chuẩn hóa, kết nối và khai thác, cấp ủy có thể nắm tình hình đầy đủ hơn, theo dõi công việc sát hơn và có thêm căn cứ để đưa ra quyết định kịp thời. Đó cũng là lúc chuyển đổi số đi từ thay đổi công cụ đến thay đổi phương thức lãnh đạo, chỉ đạo.